Xích thược

(Trang 131-134 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập – GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Tên khoa học: Radix paeonaece rubra

Xích thược là rễ phơi hay sấy khô của 3 loại thược dược: Xuyên xích thược (Paeonia veichii lynch), Noãn diệp thược dược (thảo dược dược-Paeonia obovata maxim), Thược dược (Paeonia lactiflora pall) dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên Thược dược

Cây thược dược

Tính vị qui kinh: Vị đắng, hơi hàn, qui kinh can.

  • Theo các sách cổ: Sach Bản kinh: “vị đắng, bình”. Sách Danh y biệt lục: “chua, bình, hơi hàn, có độc ít”. Sách Trân châu nang: “túc thái âm tỳ kinh”. Sách Dược phẩm hóa nghĩ: “nhập can, tiểu tràng”.

Thành phần chủ yếu: Paeoniflorin, tamin, ngoài ra có tinh bột, nhựa, chất đường, sắc tố và axit benzoic. Tỷ lệ axit benzoic trong Xích thược là thập hơn Bạch thược (0,92%), tinh dầu, Xích thược tố A.

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền: Thanh nhiệt lương huyết, khứ ư, chỉ thống, chủ trị các chứng huyết nhiệt phát ban, thổ nục, nhiệt lâm, huyết lâm, huyết trệ kinh bế, thống kinh, chấn thương do té ngã, ung nhọt sưng đau.
    – Trích đoạn Y văn cổ: Sách Bản kinh: “chủa tà khí phúc thống, trừ huyết tý, phá kiên tíc, hàn nhiệt sán hà, chỉ thống, lợi tiểu tiện, ích khí”. Sách Danh y biệt lục: “thông thuận huyết mạch, hoãn trung, tán ác huyết, trục tặc huyết, khứ thủy khí, lợi bàng quang, đại tiểu trường, tiêu ung thũng, thời hành hàn nhiệt, trùng ác phúc thống, yêu thống”. SÁch Trấn nam bản thảo: “tả tỳ hỏa, giáng khí hành huyết, phá ứ, tán huyết khối, chỉ phúc thống, thối huyết nhiệt, công ung sang”.
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại: Theo kết quả nghiên cứu y lý hiện đại, thuốc có tác dụng sau:
    – Trên thực nghiệm súc vật, thuốc có tác dụng chống co thắt ruột, dạ dày và tử cung (làm giảm đau do co thắt cơ trơn)
    – Thuốc có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn lỵ, thương hàn, phó thương hàn, coli, khuẩn mủ xanh, trực khuẩn ho gà, tụ cầu, liên cầu khuẩn huyết, phế cầu khuẩn, virus cúm, herpes, virus đường ruột và một số nấm.
    – Thuốc có tác dụng làm giản động mạch vành, chống ngưng tập tiểu cầu, chống hình thành huyết khối, làm tăng lưu lượng máu cho động mạch vành, chống thiếu máu cơ tim, trên thực nghiệm, cải thiện vi tuần hoàn, trện thực nghiệm cũng chứng minh thuốc có tác dụng làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa.
    – Paeniflorin có tác dụng kháng viêm và hạ sốt.
    – Dùng độc vị Xích thược trên thực nghiệm chứng minh có tác dụng ức chế mạnh thể dịch miễn dịch và tế bào miễn dịch, nhưng một báo cáo khác lại nhận thấy cồn chiết xuất xích thược tố D lại có tác dụng trực tiếp ức chế tế bào ung thư, gia tăng tác dụng của thực bào, nâng cao ngưỡng CAMP của tế bào ung thư. Xích thược dùng phối hợp với một số vị thuốc chống ung thư cũng làm tăng thêm tác dụng chống ung thư của thuốc và không có tác dụng làm tăng di căn.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Đối với tất cả chứng đau do ứ huyết đều dùng xích thược có kết quả tốt. Trường hợp bụng đói dưới, vùng thắng lưng đau do nhiệt huyết ứ nhứ phụ nữ tắt kinh bụng đau, phối hợp với đào nhân, Hồng hoa, Qui vĩ, nam giới viêm tuyến tiền liệt mạnh tính (thực chứng) phối hợp Bồ công anh, Bại tưởng thảo dùng bài Thang tuyến tiền liệt gồm: Xích thược 20g, Bồ công anhg, Bại tương thảo 20g, Đào nhân 8g, Vương bất lưu hành 8g, Đơn sâm 8g, Trạch lan 8g, Nhũ hương 8g, Xuyên luyện tử 8g sắc uống.
  2. Trường hợp ứ huyết do chấn thương đau sưng dùng phối hợp với Nhũ hương, Một dược, Đào nhân, Qui vĩ… Trường hợp chấn thương sọ não có di chứng đau đầu, phối hợp Xuyên khung, Bạch chỉ, Đương qui, Khương hoạt.
  3. Trường hợp liệt nửa người, phối hợp với Hoàng kỳ, Địa long như bài: Bổ dương hoàn ngũ thang (Y lâm cải thác) gồm: Sinh hoàng kỳ 40-100g, Đương qui vỹ 8-12g, Xích thược 6-8g, Địa long 4g, Xuyên khung 8g,  Đào nhân 8g, Hồng hoa, sắc nước uống. Có tác dụng Bổ khí hoạt huyết thông lạc.
  4. Trị ung nhọt mới mưng mủ, phối hợp với Kim ngân hoa, Nhũ hương, Tạo giác thích, dùng bài Tiên phương hoạt mệnh ẩm (Ngoại khoa phát huy) gồm: Chích xuyên sơn giáp 8-12g, Bạch chỉ 8-12g, Thiên hoa phấn 8-12g, Cam thảo 4-8g, Tạo giác thích sao 8-12g, Qui vĩ 8-12g, Xích thược 12g, Nhũ hương, Một dược, Phòng phong, Trần bì mỗi thứ 6-8g, Bối mẫu 8-12g, Kim ngân hoa 12-20g, săc nước hoặc nửa rượu nửa nước uống. Thuốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc tiêu ung hoạt huyết chỉ thống. Trường hợp đau mắt đỏ sương do cảm nhiệt dùng phối hợp với Cúc hoa, Mộc tặc, Hạ thảo khô.
  5. Trị đau thắt ngực do bệnh mạch vành, dùng Xích thược phối hợp Xuyên khung, Hồng hoa, Giáng hương dùng bài Mạch vành số 2 (Tổ phòng trị bệnh mạch vành Bắc Kinh) gồm: Giáng hương 20g, Đơn sâm 40g, Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa mỗi thứ 20g, tán mịn hòa nước uống, chia 3 lần trong ngày, liên tục dùng 4 tuần 1 liệu trình. Hoặc dùng độc vị xích thược sắc uống ngày 3 lần.
  6. Trị nhồi máu não cấp phối hợp với một số vị thuốc chế dịch truyền tĩnh mạch
  7. Dùng trị tâm phấn mạn, mỗi lần uống cao Xích thược tương đương 10g
  8. Trị chảy máu cam: Xích thược tán nhỏ, mỗi lần 6-8g
  9. Trị băng huyết, bạch đới: Xích thượ, Hương phụ 2 vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần uống 6-8g, ngày 2 lần trong 4-5 ngày.

Liều dùng và chú ý: 6-15g, chứng hư hàn không dùng. Thuốc chống vị Lệ lô

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Leave a Reply