Tê giác

(Trang 119-120 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập – GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Tên gọi khác: Tê giác ngưu, Hương tê giác

Tên khoa học: Cornu rhinoceri

Tê giác còn gọi là tê ngư giác, hương tê giác, là sừng của nhiều loài tê giác, dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Sứng tê giác

Tính vị qui kinh: Vị đắng, mặn hàn. Qui kinh tâm, can, vị.

  • Theo các sách cổ: Sách Bản thảo kinh: “vị đắng hàn”. Sách Bản thảo cương mục: “Đắng, chua, mặn, hàn, không độc”. Sách Bản thảo mông toàn: “nhập dương minh”. Sách Lôi công bào chế dược tính giải: “nhập tâm can”. Sác Bản thảo hội ngôn: “nhập thử thái âm, thiếu âm, túc quyết âm, thiếu âm kinh”.

Thành phần chủ yếu: Keratin, eukeratin, guanidine, cysteine, tyrosine, histidine, lysine, agrinine, canxi, cacbonat, canxi photphat, choleysterol

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền:
    – Thuốc có tác dụng luong huyết chỉ huyết, an thần định kinh, giải độc hóa ban. Chủ trị các chứng huyết nhiệt thổ nục, tà nhập đinh huyết hôn mê nói sảng, co giật, nhiệt độc thịnh, ban chẩn tía thân.
    – Trích đoạn Y văn cổ: Sách Bản kinh: “Trị bách độc, chướng khí, rắn độc cắn…” Sách Danh y biệt lục: “trị thương hàn, ôn dịch, đau đầu hàn nhiệt, các độc khí”. Sách Nhật hoa tử bản thảo: “Trị tâm phiền, chỉ kinh, thối nhiệt, tiêu đàm, giải sơn chướng khê độc, trấn can minh mục, trị trúng phong thất âm, nhiệt độc phong, thời khí phát cuồng”. Sách Bản thảo cương mục: “mài nước uống trị thổ huyết, nục huyết, hạ huyết và chứng thương hàn súc huyết phát cuồng, nói nhảm, chứng vàng da phát ban, đậu sang dày đặc, nội nhiệt lý hãn, hoặc không kết vảy, tả can lương tâm, thanh vị giải độc”.
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
    – Cường tim: Thực nghiệm trên súc vật chứng minh thuốc có tác dụng cường tim. Tác dụng giãn mạch: Trên thực nghiệm thuốc bắt đầu có tác dụng co mạch thời gian ngắn sau đó tác dụng giãn mạch rõ.
    – Tác dụng tăng áp: Trên thực nghiệm có nhận xét sau khi huyết áp hạ lại tiếp tục tăng, có thể do tác dụng cường tim của thuốc (làm hưng phấn cơ tim) hoặc hết tác dụng giãn mạch.
    – Trên thực nghiệm, Tê giác bắt đầu làm giảm, sau đó lại làm tăng bạch cầu.
    – Tác dụng hạ nhiệt: Trên thực nghiệm chưa chứng minh được.
    – Thuốc có tác dụng làm hưng phấn ruột và tử cung thỏ (trên ống nghiệm)
    – Thuốc có tác dụng an thần rõ.

Ứng dụng lâm sàng:

Chữa các bệnh: Nhiễm cấp, sốt cao mê man, co giật hoặc có phan ban, tùy chứng dùng các bài:

  1. Tê giác địa hoàng thang (Thiên kim phương): Tê giác 4g (hoặc sừng trâu 80g, dùng bột mịn hòa với thuốc sắc để uống, sinh địa 40g, Đơn bì 12g, Xích thược 12g, sắc uống)
  2. Thanh dinh thang (Ôn bệnh điều biện): Tê giác 2-4g (tán bột mịn hòa thuốc thang uống), sinh địa 20g, Huyền sâm 12g, Trúc diệp tâm 4-6g, Mạch môn 12g, Đơn sâm 12g, Hoàng liên 6-8g, Liên kiều 6-10g, Kim ngân hoa 12-20g, sắc nước uống.
  3. Hóa ban thang (Ôn bệnh điều biện): Thạch cao 20-40g, Tri mẫu 12-16g, Huyền sâm 12g, Ngưu giác 16-20g, sắc trước, Cam thảo 4-6g, (Chữa các chứng sốt xuất huyết, sởi trẻ em có kết quả tốt)
  4. Chữa các chứng xuất huyết như chảy máu cam, chảy máu răng, ho, nôn có máu hoặc tiêu có máu… Tùy tình hinh bệnh dùng các bài trên gia giảm.

Liều dùng và chú ý: Tê giác 2-12g tán bột mịn hòa với nước thuốc, không sắc. Ngưu giác (sừng bò hoặc sừng trâu) lượng dùng phải gấp 10-20 lần cũng có tác dụng như Tê giác, lúc dùng phải sắc trước.

 

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Leave a Reply