Sinh địa hoàng

(Trang 121-124 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập – GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Tên khoa học: Radix rehmanniae glutinosae

Sinh địa hoàng là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Địa hoàng (Rehmannia glutinosa (Guaertn) Libosh. (Digitalis glutinisa gaern) thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên càn Địa hoàng. Hiện ta đã di thực được thành công cây sinh địa.

Cây Sinh đại

Tính vị qui kinh: Vị ngọt, đắng, hàng. Qui kinh: Tâm, can, thận.

  • Theo các sách cổ: Sách Bản kinh: “vị ngọt, hàn”. Sách Thang dịch bản thảo: “nhập thủ thái dương, thiếu âm kinh”. Sách Lôi công bào chế dược tính giải; “nhập tâm, can, tỳ, phế kinh”

Thành phần chủ yếu: beta-sitosterol, mannitol, stigmasterol, campesterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền: Thanh nhiệt lương huyết, dưỡng âm, sinh tân. Chủ trị chứng ôn nhiệt bệnh nhiệt nhập dinh huyết, chứng xuyết huyết do nhiệt bức huyết hành, nhiệt bệnh thương âm, chứng tiêu khát, táo bón do trường bào.
    – Trích đoạn Y văn cổ: Sách Bản kinh: “chủ chấn thương gân do té ngã…trục huyết tí, sinh cốt tủy, trưởng cơ nhục, thước thang trừ hàn nhiệt tích tụ, trừ tý, dùng tươi tốt:. Sách Danh y biệt lục: “chủ nam tử ngũ lao thất thương, nữ tử thương trung, bào lậu hạ huyết, phá ác huyết, niệu huyết, lợi đại tiểu tiện, tiêu thực, bổ ngũ tạng, nội thương bất túc, thông huyết mạch, ích khí lực, thông lợi tai mắt”. Sách Bản kinh phùng nguyên: “càn địa hoàng, nội chuyên lương huyết, tư âm, ngoại nhuận bì phu vinh trạch, bệnh nhân hư mà có huyết nên dùng thêm sinh địa”.
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
    – Chống viêm:  Trên thực nghiệm, nước sắc sinh đại có tác dụng chống viêm
    – Tác dụng hạ đường huyết rõ rệt trên súc vật thực nghiệm có đường huyết cao, cũng có thể làm cho đường huyết bạch thược của thổ hạ thấp.
    – Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống phóng xạ, chống nấm.
    – Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoid nhưng không làm ức chế học teo vỏ tuyết thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoid.

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Dùng chữa các bệnh cấp tính sốt cao, khát nước, mồm khô lưỡi đỏ thẩm để thanh nhiệt, lương huyết, tư âm, giáng hỏa phối hợp với các thuốc khác như Huyền sâm., Mạch môn, Tê giác (hoặc sừng trâu bò) như các bài:
    – Tê giác đại hoàng thang, Thang dinh thang (xem vị Tê giác)
    – Sinh địa hoàng 16g, Huyền sâm, Mạch môn mỗi thứ 12g, Quả trám 2 quả (đập vụn), sắc uống chữa viêm họng đau sốt, khát nước.
    – Tăng dịch thang (Ôn bệnh điều biện): Huyền sâm 20g, Mạch môn, Sinh địa mỗi thứ 16g, trị chứng sốt mất nước táo bón, khát nước lưỡi khô đỏ, mạch tế sác.
    – Dùng  chữa các bệnh sốt phát ban hoặc xuất huyết (do nhiệt lộng huyết hành sinh ra chảy máu cam, nôn có máu, tiêu tiểu có máu…) có các bài:
    Sinh địa tươi 40g, sắc uống trị máu cam.
    Tứ sinh hoàn (Phu nhân lương phương): Sinh đại tươi 24g, Trác bá diệp tươi 12g, Ngài diệp tươi 12g, Lá sen tươi 12g, sắc nước uống. trị bệnh sốt nôn ra máu, chảy máu cam. 
    Sinh địa hoàng 16g, Thạch hộc 12g, Mạch môn 12g, sắc uống trị bệnh sốt cấp thời kỳ hồi phục mồm khô, họng đau, chảy máu răng.
    Trong bệnh sốt có hội chứng chảy máu, có kinh nghiệm dùng thuốc như: Chảy máu cam, thổ huyết dùng thêm Rễ tranh, Lô căn, tiểu có máu dùng Mộc thông, Xa tiền tử, trĩ ra máu dùng Hoa hòe, Địa du, Nếu các chứng chảy máu do dương hư, khí hư thì không dùng sinh địa.
  2. Trị bệnh ngoài da do huyết nhiệt như chàm lở, nấm nhiễm trùng, ngứa urticaire dùng Sinh địa phối hợp với Đương qui, Phòng phong, Bạch tuật lê, Bạch tiên bì như:
    – Tiêu phong tán (Y tôn kim giám) gồm: Kinh giới, Phòng phong, Đương qui, Sinh địa, Khổ sâm, Thương truật (sao), Thuyền thối, Hồ ma nhân, Ngưu bàng tử, Tri mẫu, Thạch cao, Cam thảo sống, Mộc thông, có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, giảm ngứa, tiêu sưng.
  3. Trị bệnh nhiễm thời kỳ phục hồi, bệnh mạn tính sốt kéo dài như lao, bệnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, ung thư… có hội chứng âm hư nội nhiệt (sốt âm ỉ, da khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, mạch tế sác… thường phối hợp với các loại tư âm thanh nhiệt như Tri mẫu, Miết giáp, Địa cốt bì, Thanh hao… như các bài:
    – Thanh hao tiết giáp thang (Thanh hao, Miết giáp, Tế sinh địa, Tri mẫu, Đơn bì)
    – Tri bá hoàng hoàn (Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh địa, Sơn thù, Sơn dược, Đơn bì, Bạch linh, Trạch tả)
    – Trị chứng âm hư trong bệnh viêm họng mạn, thường dùng thêm cam thảo, Bạc hà, quả Đười ươi, Sơn đậu căn. Trị chứng âm hư có tiêu bón táo bón kéo dài, dùng sinh địa 80g, sắc uống hoặc gia thêm thịt nạc heo cùng nấu nhừ để ăn.
    – Kinh ngọc cao (Chu Đan Khê) gồm: Sinh đại 2400g, Bạch linh 480g, Nhân sâm 240g, Mật ong 1200. Giã Sinh địa vắt lấy nước, thêm mật ong nấu sôi, thêm Bạch linh và Nhân sâm đã tán nhỏ cho vào lọ đậy kín, đun cách thủy 3 ngày 3 đêm để nguội, mỗi lần uống 1-2 thìa, ngày 2-3 lần.
  4. Trị tiểu đường: Thường phối hợp các vị thuốc như Thiên môn, Kỷ tử, Cát căn, Thiên hoa phấn, Sa sâm, Hoàng kỳ… như:
    – Ích vị thang: (Ôn bệnh điều biện) gồm: Sa sâm, mạch môn, Sinh địa, Ngọc trúc có tác dụng ích vị sinh tân giải khát
    – Tăng dịch thang (Ôn bệnh điều biện) gồm: Huyền sâm, Mạch môn, Sinh địa, có tác dụng sinh tân nhuận táo
    – Hoàng liên viên (Thiên kim phương): Sinh địa 800g, Hoàng liên 600g. Giã Sinh địa vắt lấy nước, tẩm vào Hoàng Liên, phơi khô rồi tẩm cho đến hết nước. Hoàng liên thêm mật viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày uống 20 viên, ngày uống 2-3 lần.
    – Sinh địa hoàng 40g, Sơn dược 40g, Hoàng kỳ 20g, Sơn thù 20g, Tụy heo 12g, sắc nước uống trị tiểu đường.

Liều dùng và chú ý: Sinh địa hoàng 12-20g, Sinh địa tươi 40-120g.
Củ sinh địa mới đào lên là Sinh địa tươi, vùi vào cát ẩm có thể bảo quản được 2-3 tháng. Tình chất Sinh địa và Sinh địa tươi cở bản giống nhau, nhưng sinh địa tươi hàn lương hơn nên sinh tân, chỉ khát mạnh hơn nhưng tác dụng bổ âm kém. Còn địa hoàng là sinh địa tươi rửa sạch sao khô, nếu qua bào chế nhiều lần chưng phơi sẽ thành Thục địa, có tác dụng bổ âm huyết.

Không dung Sinh địa trong các trường hợp: Tỳ hư thấp, tiêu chảy, bụng đầy, dương hư. Trường hợp có sốt dùng Sinh địa không dùng Thục địa, nếu cần thanh nhiệt mà cơ thể hư thì Sinh thục địa cùng dùng như bài Bái hợp cố kinh thang (Y phương tập giải) gồm: Sinh, Thục địa hoàng, Bối mẫu, Bách hợp, Mạch môn, Huyền sâm, Đương qui, Bạch thược, Cam thảo, Cát cánh, có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt nhuận phế hóa đàm. Bài Đương qui lục hoàng thang (Lam thất bí tàng) gồm: Đương qui, Sinh, Thục địa, Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Hoàng kỳ, có tác dụng Tư âm thanh nhiệt cố biểu chỉ hãn.

Lúc dùng Sinh địa, để làm giảm bớt tính nê trệ của thuốc, bớt anh hưởng đến tiêu hóa, nên phối hợp với thuốc hành khí tiêu thực như: Chỉ xác, Sa nhân, Mộc hương, Trần bì…

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Leave a Reply