Kim ngân hoa

(Trang 134-136 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập – GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Tên khoa học: Flos lonicerae japonicae

Kim ngân hoa được dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trongs ách Sanh y biệt lục. Thuốc có nhiền tên gọi như Ngân hoa, Kim ngân hoa, Nhẫn đông, song hoa, nhị hoa. Là hoa của cây Kim ngân (Nhẫn đông) (Lonicera japonica thumb) thuộc họ Cơm cháy (Caprifoliaceae). Cây Kim ngân mọc hoang tại nhiều vùng núi ở miền Bắc nước ta.

Hoa của cây Kim ngân hay còn gọi là Kim ngân hoa

Tính vị qui kinh: Vị ngọt, tính hàn. Qui kinh phế vị, đại tràng.

  • Theo các sách cổ: Sách Trấn nam bản thảo: “tính hàn, vị đắng”. Sách Bản thảo chính: “vị ngọt khí bình, tính hơi hàn”. Sách Lôi công bào chế dược tính giải: “nhấp phế kinh”. Sách Đắc phối bản thảo: “nhập túc dương minh, thái âm kinh”.

Thành phần chủ yếu: Luteolin, inositol. tanmin

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền: Thanh nhiệt giải độc. Chủ trị chứng ngoại cảm phong nhiệt, thời kỳ đầu ôn bệnh, thử nhiệt, ngoại đương nội ung, nhiệt độc, tả lỵ.
     Trích đoạn Y văn cổ: Sách Danh Y biệt lục: “hàn nhiệt thân thũng, nhiệt độc”. Sách Bản thảo cương mục: “tất cả các khí phong thấp và thũng độc, ung thư, giới tiên, dương mai, ác sang, thuốc có tác dụng tán nhiệt và giải độc”. Sách Cảnh nhạc toàn thư – Bản thảo chính: “Kim ngân hoa thiện về hóa động, trị chứng ung thư, thũng độc, sang tiên, dương mai, phong thấp độc là thuốc chủ yếu. Độc chưa thành thì thuốc tán độc, độc đã thành thì giải độc nhưng tính của thuốc hòa hoãn nên cần tăng bội lượng hoặc dùng rượu sắc uống, hoặc giả lấy nước trừng rượu uống, hoặc nghiền nát trộn với rượu để đắp. Trị loa lịch, độc phần khím thường suyên sắc uống, uống mỗi lần độ 1 lạng kết quả rất tốt”. Sách Bản kinh phùng nguyên: “Kim ngân hoa giải độc khứ nung, trong tả có bổ, là vị thuốc thánh đối chứng ung thư đã vỡ mủ. Nhưng trường hợp cơ thể khí hư mủ trong, ăn ít, tiêu chảy không nên dùng”.
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại: Chứng minh thuốc có tác dụng:
    – Khảnh khuẩn: Thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như: Tụ cầu vàng, liên khuẩn dung huyết, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn ho gà, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, não cầu khuẩn, trực khuẩn lao ở người…cùng các loại nấm ngoài da, virus cúm.
    – Chống viêm, làm giảm chất xuất tiết, hiai3 nhiệt và làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu.
    – Tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh cường độ bằng 1/6 của cà phê.
    – Làm hạ cholestrerol trong máu.
    – Tăng bài tiết dịch vị và mật
    – Tác dụng thu liễm do có chất tanin

Ứng dụng lâm sàng:

  1. Trị chứng ngoãi cảm phong nhiệt (thời kỳ đầu của bệnh) thường kết hợp với Kinh giới, Bạc hà, Liên kiều dùng bài Ngân kiều tán.
  2. Trị mụn nhọt ngoài da, dùng thuốc trong và đắp ngoài, thuốc uống kết hợp với Bồ công anh, Dã cúc hoa, Hoàng cầm…
  3. Trị lỵ trực khuẩn có thể dùng độc vị, kết hợp dùng Hoàng liên, Hoàng cầm, Bạch đầu ông…

Liều dùng và chú ý: 12-40g, dùng tươi và đắp ngoài lượng nhiều hơn và tùy tình hình bệnh lý. Trường hợp tỳ vị hư hàn dùng thận trọng, nếu dùng thuốc gây tiêu chảy có thể bớt liều.

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Leave a Reply