6+ Bài thuốc về Hà Thủ Ô đã được kiểm nghiệm

Hà thủ ô đỏ là gì?

Hà thủ ô đỏ còn được gọi là Thủ ô, giao đằng, dạ hợp, địa tinh, khua lình( Thái)..

Tên khoa học: Polygonum multiflorum.

Bộ phận dùng: Rễ củ

Đặc điểm sản phẩm: Rể củ tròn, hoặc hình thoi, không đều. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành.

Phân bố vùng miền: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam: Các tỉnh Tây Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai, Lai Châu, Tây Nguyên.

Thời gian thu hoạch: Mùa thu khi lá khô úa.

Hà thủ ô có tác dụng gì

Truyền thuyết về Hà thủ ô:

Hà thủ ô, theo y tịch cổ ghi lại, có năm tên, gồm: Dã miêu, Giao đằng, Dạ hợp, Địa tinh, Hà thủ ô. Sau ông Hà Thủ Ô dùng để uống nên mới gọi Hà thủ ô. Theo truyền thuyết dân gian, thời nhà Đường, năm Nguyên Hòa thứ 7 (năm 812), Lý Cao (李翱 – li ao) soạn “Hà Thủ Ô truyện” như sau: Hà Thủ Ô, người ở huyện Nam Hà thuộc Thuận Châu (顺州 – shun zhou), có ông tên Năng Tự, cha tên Diên Tú. Năng Tự vốn tiên Điền Nhi, sinh ra yếu ớt, năm 58 tuổi, chưa lấy vợ, thường ham đạo thuật theo các thầy ở núi. Một lần, uống rượu say nằm ở núi hoang, chợt thấy có hai cây dây leo, cách nhau hơn ba thước, quấn vào nhau, lâu lâu lại rời ra, rồi lại quấn vào nhau. Điền Nhi cảm thấy rất kinh ngạc trước sự kỳ lạ này, bèn đến đào củ của nó lên rồi mang về. Về đến nhà bèn mang ra hỏi mọi người, nhưng không ai biết. Sau có ông già trên núi (山老 – sơn lão) chợt đến, Điền Nhi liền đem hỏi. Ông lão đáp rằng “Người không có con, mà loại cây này lại kỳ lạ như vậy, có lẽ đây là vị thuốc thần tiên, tại sao lại không đem mà uống thử?”. Điền Nhi liền đem tán bột, hòa với rượu, uống mỗi lần 1 đồng cân (钱 qian = đồng cân. 1 đồng cân ở Trung Quốc = 3.125 gram, ở Hồng Kông, Đài Loan và một số nước khác thì 1 đồng cân = 3.7429 gram ~ 1 chỉ vàng/3.75g) , dùng liền 7 ngày đã nghĩ đến chuyện tình dục, dùng vài tháng thấy thân thể tráng kiện, vì thế nên uống mãi, sau tăng lên 2 đồng cân một lần. Uống qua một năm, các bệnh tật trước đây đều khỏi, tóc đen trở lại. Trong vòng 10 năm, sinh liền được mấy người con trai, bèn đổi tên thành Năng Tự. Sau uống cùng với con trai là Diên Tú, thọ sống đến 160 tuổi. Diên Tú sinh ra Thủ Ô. Thủ Ô cũng uống thứ thuốc này, sinh được vài con trai, sống đến 130 tuổi, tóc vẫn còn đen. Có Lý An Kỳ (李安其 – li an qi) lấy (trộm?) được bài thuốc này đem về dùng cũng sống trường thọ, và thuật lại truyện lạ trên.

Hà thủ ô có tác dụng gì

Đặc điểm cây Hà thủ ô:

Đặc điểm thực vật:

Dây leo bằng thân quấn, sống nhiều năm, thân dài tới 5-7m, mọc xoắn vào nhau, màu xanh tía, không lông. Rễ phình thành củ, ngoài nâu, trong đỏ. Lá mọc so le, có cuống dài, phiến lá giống lá rau muống, có gốc hình tim hẹp, chóp nhọn dài, mép nguyên. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm nhiều chùy ở nách lá hay ở ngọn.Quả bế hình ba cạnh, màu đen. Cây ra hoa tháng 8-10.Quả tháng 9-11 tốt nhất.

 Phân bố:

  • Thế giới: mọc ở Trung Quốc (Giang Tô, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Phúc Kiến), Nhật Bản.
  • Việt Nam: Mọc hoang ở rừng núi, nhiều nhất ở các tỉnh Tây Bắc sau đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lào Cai, Lai Châu, Tây Nguyên.

 Bộ phận dùng: Rễ củ

Thu hái, chế biến và bảo quản:

  • Thu hái: vào mùa thu, khi lá khô úa,đào về rửa sạch đất, bỏ rễ con. Củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi hoặc bổ tư, phơi hay sấy khô. Nếu đồ chín rồi phơi khô thì tốt hơn. Khi thu hái cần có ý thức giâm lại để cây thuốc tiếp tục phát triển.
Hà thủ ô có tác dụng gì

Hướng dẫn cách chế biến Hà thủ ô đỏ

Trích Các phương pháp bào chế Đông dược – Nhà xuất bản Y học, trang 341-342

Tên thuốc: Hà thủ ô, Tiên thủ ô, Chế thủ ô

Bộ phận dùng làm thuốc: Rễ, thường gọi là củ, dùng loại to, khô võ, có màu nâu sẫm, cứng đỏ, chắc, nhiều bột, ít xơ, không mọt là loại tốt.

Phương pháp bào chế:

Theo Lôi công bào chế: Rửa sạch, thái miếng cho vào chậu đổ rượu ủ một đêm, cứ 10 kg Hà thủ ô dùng 2,5 lít rượu. Hôm sau cho vào chõ đồ 4 giờ, lấy ra phơi trong bóng râm cho khô, lại tiếp tục tẩm rượu đồ phơi, làm 3 lần là được. Miếng Hà thủ ô có màu đen nâu.

Hà thủ ô có tác dụng gì

Cách sơ chế Hà thủ ô

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch Hà thủ ô, ngâm nước vo gạo một ngày 1 đêm, rửa lại, đổ nước đậu đen cho ngập (Cứ 100gr đậu đen nấu với 2 lít nước cho nhừ) Nấu đến khi nước đậu đen cạn, trong khi nấu nên đảo đều để Hà thủ ô chín đều, khi Hà thủ ô chín mềm thì lấy ra rút bỏ lõi, thái mỏng, phơi khô, nếu còn nước đậu đen thì tiếp tục tẩm phơi cho đến khi hết.

Hoặc nấu theo kiểu cửu chưng cửu xái, Hà thủ ô rửa sạch ngâm nước vo gạo 4 ngày 4 đêm, ngày thay nước gạo một lần, sau đó cạo bỏ vỏ, rửa sạch, cạo bỏ vỏ Hà thủ ô, cho Hà thủ ô vào chõ dưới có lót gỗ để tránh cháy, một lớp dược liệu một lớp đậu đen, bỏ đậu đen lấy Hà thủ ô phơi khô, làm như vậy 9 lần, đêm nấu, ngày phơi, thái lát hoặc phơi khô trong bóng râm, hoặc sấy khô dùng, hoặc tán thành bột dùng.

Tính vị quy kinh: Vị đắng, ngọt, tính ấm, vào hai kinh can và thận.

Công dụng: Ích khí, trừ phong, mạnh gân cốt, bổ can thận.

Chủ trị: Chữa di tinh, đới hạ, huyết hư, đại tiện ra máu, cơ thể suy nhược.

Liều dùng: Ngày dùng từ 12-120gram

Kiêng kỵ: Người táo bón không được dùng, dùng Hà thủ ô không được ăn các loại hành.

Bảo quản: Thuốc đã bào chế để nơi khô ráo, tránh mốc mọt, thỉnh thoảng phơi.

Cách chế biến Hà Thủ ô

Mô tả dược liệu cây Hà Thủ Ô

Rể củ tròn, hoặc hình thoi, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành. Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ.Vị chát.

Thành phần hóa học có trong Hà Thủ ô

Củ chứa: 1,7% antraglucosid trong đó chủ yếu là: emodin, chrysophanola, rhein.

Ngoài ra còn có 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% chất béo, 4,5% chất vô cơ, 26,4% các chất tan trong nước, lecitin.

Lúc chưa chế, Hà thủ ô chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần.

Sau khi chế, còn 3,82% tanin. 0,1127%, dẫn chất anthraquinon tự do và 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần

Tác dụng dược lý của Hà thủ ô đỏ:

Bổ khí huyết: Khí huyết đều hư, cơ thể mệt nhọc vô lực, thở ngắn hơi, thiếu máu, nhức đầu, râu tóc bạc sớm, ra mồ hôi trộm, tim loạn nhịp, mất ngủ,…

Bổ thận âm: Lưng đau, di tinh, liệt dương, phụ nữ bạch đới, dinh nguyệt không đều.

Giải độc chống viêm: Mụn nhọt, thấp chẩn lở ngứa, bệnh tràng nhạc, viêm gan mạn tính.

Nhuận tràng thông tiện: Thiếu máu vô lực dẫn tới đại tiện bí táo. Trĩ, đi ngoài ra máu cho kết quả tốt.

Công dụng và cách dùng Hà thủ ô đỏ

Hiện nay, Hà thủ ô được dùng như một vị thuốc quý trong dân gian làm thuốc bổ trị các bệnh về thần kinh, suy nhược cơ thể, khỏe gân cốt, ích huyết, làm đen râu tóc và sống thọ hơn.

Đối với phụ nữ, cây được dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh sau khi sinh, các bệnh xích bạch đới. Một số các tác dụng trên cần được kiểm tra lại bằng lâm sàng. Liều dùng: Hàng ngày uống từ 12g đến 20g dưới dạng thuốc bột hoặc thuốc rượu hoặc thuốc sắc.

Một số bài thuốc sử dụng Hà Thủ ô đỏ trong dân gian:

  1. Đơn thuốc bổ dùng cho người già yếu, thần kinh suy nhược, ăn uống kém tiêu: Hà thủ ô 10g, đại táo 5g, thanh bì 2g, trần bì 3g, sinh khương 3g, cam thảo 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3-4 lần uống trong ngày.
  2. Chữa huyết hư máu nóng, tóc khô hay rụng, sớm bạc, và hồi hộp chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lưng gối rũ mỏi, khô khát táo bón: Dùng Hà thủ ô chế, Sinh địa, Huyền sâm, mỗi vị 20g sắc uống.
  3. Bổ khí huyết, mạnh gân cốt: Hà thủ ô trắng và Hà thủ ô đỏ với lượng bằng nhau, ngâm nước vo gạo 3 đêm, sao khô tán nhỏ, luyện với mật làm viên to bằng hạt đậu xanh. Uống mỗi ngày 50 viên với rượu vào lúc đói.
  4. Chữa người già xơ cứng mạch máu, huyết áp cao hoặc nam giới tinh yếu khó có con: Dùng Hà thủ ô 20g, Tầm gửi Dâu, Kỷ tử, Ngưu tất đều 16g sắc uống.
  5. Điều kinh bổ huyết: Hà thủ ô (rễ, lá) 1 rổ lớn, Đậu đen 1/2kg. Hai thứ giã nát, đổ ngập nước, nấu nhừ, lấy vải mỏng lọc nước cốt, nấu thành cao, thêm 1/2 lít mật ong, nấu lại thành cao, để trong thố đậy kín, mỗi lần dùng 1 muỗng canh, dùng được lâu mới công hiệu.
  6. Chữa đái dắt buốt, đái ra máu (Bệnh lao lâm):Dùng lá Hà thủ ô, lá Huyết dụ bằng nhau sắc rồi hòa thêm mật vào uống.

Một số câu hỏi thường gặp về hà thủ ô đỏ

Uống Hà thủ ô bao lâu thì đen tóc:

Hà thủ ô là vị thuốc quy kinh thận, mà thận chủ cốt tủy, do vận Hà thủ ô có tác dụng tích cực trong việc điều trị tóc bạc sớm. Tuy nhiên với câu hỏi, uống Hà thủ ô bao lâu thì đen tóc sẽ không có một câu trả lời chính xác, bởi vì mỗi môt triệu chứng, một thể trạng con người khác nhau sẽ có thời gian điều trị khác nhau. Để rõ hơn về chứng bạc tóc của mình, quý bạn đọc nên tìm đến thầy thuốc uy tín nhất để có câu trả lời chính xác hơn.

Hà thủ ô có nóng không?

Hà thủ ô là thảo dược rất tốt cho thận, gan, bồ bổ trí não và điều hòa khí huyết. Hoàn toàn không gây nóng nên bạn đọc hoàn toàn yên tâm sử dụng.

Uống hà thủ ô có bị mọc mụn không?

Người ta còn dùng loại thảo dược này để trị mụn bằng cách kết hợp với mật ong vì vậy sẽ không xảy ra việc bị mụn khi dùng hà thủ ô. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng cần kiêng ăn các loại thực phẩm có tính cay nóng như tỏi, ớt, hồ tiêu, hành, củ cải,…

Uống hà thủ ô có bị tiêu chảy?

Nên dùng với liều lượng thấp hoặc hỏi ý kiến thầy thuốc nếu có thể. Đối với những người có thể đàm thấp, tỳ hư, thường xuyên bị đại tiện lỏng thì không nên dùng vì có thể khiến bệnh tình nặng thêm.

Hả thủ ô có giúp mọc tóc không?

Không, thảo dược này chỉ có tác dụng ngăn rụng tóc và trị tóc bạc sớm thôi. Hoàn toàn không giúp tóc mọc thêm được.

Trẻ em uống hà thủ ô được không?

Không nên cho trẻ em dùng thảo dược này, vì hàm lượng dược chất khá cao, cơ thể trẻ em chưa hoàn thiện không thể thích ứng kịp.

Kiểm nghiệm dược liệu trong Hà thủ ô đỏ

Vi phẫu:       

Lớp bần gồm 3 – 4 hàng tế bào thành dày.Mô mềm vỏ phát triển nhiều, rải rác có nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai và hình thoi.Từng đám libe cấp II rời nhau xếp thành một vòng tròn ứng với các đám gỗ cấp II ở bên trong.Tầng sinh libe-gỗ.Gỗ cấp II chạy vào đến tâm.Tia ruột chạy từ tâm cắt libe-gỗ cấp II thành từng đám. Ngoài ra có các bó libe gỗ thứ cấp được hình thành sau gỗ cấp II  nằm riêng lẻ hoặc chụm với nhau rải rác khắp mô mềm vỏ.

Bột:   

Mùi nhẹ, màu nâu hồng, vị hơi chát. Soi dưới kính hiển vi thấy: Nhiều hạt tinh bột đơn hoặc kép đôi, kép ba, nằm riêng lẻ hoặc kết thành khối, đường kính 5-25µm, rốn hình sao hay phân nhánh.

Rải rác có các mảnh mạch điểm.Tinh thể calci oxalat hình cầu gai, đường kính 20 – 50µm. Mảnh bần gồm các tế bào hình đa giác thành dày có màu đỏ nâu.Mảnh mô mềm có tế bào thành mỏng chứa tinh bột.Sợi nhỏ dài có vách dày với nhiều ống trao đổi.

Định tính:

  • A. Lấy 2g bột dược liệu cho vào ống nghiệm, ngâm với 10ml nước trong 30 phút, gạn lấy 5ml, thêm 3 – 4 giọt dung dịch natri hydroxyd (TT) sẽ có màu đỏ sẫm.
  • B. Lấy 0,1g bột, thêm 10ml dung dịch natri hydroxyd 10% (TT) đun cách thủy trong 5 phút, để nguội, lọc, dịch lọc được acid hóa bằng dung dịch acid hydrocloric 10% (TT) đến môi trường acid (thử bằng giấy quỳ), sau đó lắc với 20ml ether ethylic (TT), lớp ether ethylic có màu vàng cam, gạn lấy 5ml ether, thêm 5ml dung dịch amoniac đậm đặc (TT), lớp amoniac sẽ có màu đỏ.
  • C.  Lấy 0,2g bột dược liệu đun cách thủy với 10ml ethanol 96% (TT) trong 5 phút, để nguội, lọc, lấy 5ml dịch lọc để bay hơi đến khô, thêm 2ml dung dịch antimoni clorid (TT) sẽ có màu đỏ hay tím đỏ.
  • D. Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại lát cắt có màu vàng xám.
  • E. Phương pháp sắc ký lớp mỏng(Phụ lục 5.4)

Bản mỏng: Silicagel G đã hoạt hóa ở 110oC trong 1 giờ

Dung môi khai triển: Ethylacetat- methanol – nước (100: 17: 13)

Dung dịch thử: Lấy 0,25g bột dược liệu đun cách thủy với 20ml ethanol 96% (TT) trong 30 phút, để nguội, lọc, để bay hơi đến cắn khô. Cắn thêm vào 10ml nước và 1ml dung dịch acid hydrocloric 10% (TT) đun cách thủy 30 phút, để nguội sau đó lắc với 25ml ether ethylic (TT) 2 lần, dịch ether được bay hơi con khoảng 1ml dùng làm dung dịch thử.

Dung dịch đối chiếu: Pha dung dịch emodin 0,1 % trong ethanol 96% (TT). Nếu không có các chất đối chiếu, dùng 0,25 g bột Hà thủ ô đỏ (mẫu chuẩn), chiết như dung dịch thử.

Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 µl dung dịch thử và dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai, để khô bản mỏng trong không khí ở nhiệt độ phòng, phát hiện các vết dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365nm và hơi amoniac. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải cho các vết có cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.

Chỉ tiêu khác:

  • Độ ẩm: Không quá 13%
  • Tro toàn phần: Không quá  9%
  • Tro không tan trong dung dịch acid hydrocloric: Không quá  2%
  • Tạp chất: Tạp chất khác: Không quá 0,5%. Tỉ lệ xơ gỗ: Không quá 1%.
  • Chất chiết được trong dược liệu: Không ít hơn 20%, tính theo dược liệu khô (Phụ lục 12.10). Tiến hành theo phương pháp chiết nóng, dùng ethanol 30% (TT) làm dung môi.

Tài liệu tham khảo:

  • Bộ y tế, Giáo trình Dược học cổ truyền, Nhà xuất bản y học, 2006
  • Bộ Y tế, Dược điển Việt Nam IV, 2010
  • Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, 2006
  • Viện Dược Liệu, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I và II, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật, 2006
  • Các phương pháp bào chế Đông dược – Nhà xuất bản Y học

Khuyến cáo:

Huongrung.net  cung cấp thông tin dược liệu tự nhiên chăm sóc sức khỏe thường ngày với mục đích tham khảo. Không nên tự ý sử dụng các dược liệu hay bài thuốc. Quý vị hãy tham khảo theo ý kiến Thầy thuốc / Bác sỹ chuyên khoa. 

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Trả lời

Gọi đặt hàng
Chỉ đường