Hạ khô thảo

(Trang 110-112 trích từ sách Dược Học Cổ Truyền Toàn Tập – GS-BS Trần Văn Kỳ, nhà xuất bản Đà Nẵng )

Tên khoa học: Spica prunellea vulgario

Bộ phận làm thuốc là toàn cây trên mặt đất (bỏ rễ) hoặc cành mang hoa và quả phơi khô của cây hạ khô thảo (Prunella vulgaris L) thuộc họ Hoa Môi (Lamiaceae), Thuốc còn có tên là Hạ khô thảo hoa, đại đầu hoa, ghi đầu tiên trong sách Bản kinh.

Hạ khô thảo

Tính vị qui kinh: Vị cay, đắng, hàn. Qui kinh Can, đởm

  • Theo các sách cổ: Sách Bản thảo kinh: “vị đắng, cay, hàn“. Sách Cảnh nhạc toàn thư: “vị hơi đắng, hơi cay“. Sách Trần nam bản thảo: “nhập can”. Sách Bản thảo kinh sơ: “nhập túc quyết âm, thiếu dương kinh”.

Thành phần chủ yếu: Oleanolic acid, ursolic acid, rutin, hyperoside, caffeic acid, vitamin B, vitamin C, vitamin K, tannim.

Tác dụng dược lý:

  1. Theo Y học cổ truyền: Thuốc có tác dụng: Thanh can hỏa, tán uất kết, chủ trị chứng can hỏa thượng viêm, mắt đỏ, đau đầu, chứng loa lịch (lao hạch cổ) anh lựu ( bệnh bứu giáp)
    – Trích đoạn Y văn cổ: Sách Bản kinh: “Chủ hàn nhiệt, loa lịch, đầu sang, phá trưng, tán anh kết khí, cước thũng thấp tý“. Sách Trấn nam bản thảo: “khư can phong, hành kinh lạc. Trị khẩu nhãn oa tà (mồm, mắt méo xệch) hành can khí, khai can uất, chỉ cân cốt thống, mục châu thống, tán loa lịch chu thân kết hoạch“. Sách Bản thảo cương mục: “…Hạ khô thảo trị đau tròng mắt đêm đau nặng, rất công hiệu, hoặc do dùng thuốc đắng hàn nhỏ mắt đau nặng hơn, dùng hạ thảo khô có công hiệu. Mục châu thuộc can hệ, thuộc kinh quyết âm. Mắt đêm đau nặng và nhỏ thuốc đắng lạnh, đau vì đêm và hàn thuộc âm. Hả khô thảo khí thuần dương, bổ huyết mạch quyết âm, lấy dương trị âm nên có công hiệu“.
  2. Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
    – Tác dụng lợi tiểu rõ
    – Tác dụng kháng khuẩn: In vitro, thuốc có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn dung huyết…
    – Tác dụng hạ áp: Trên thực nghiệm, chích nước sắc Hạ khô thảo cho thỏ, có tác dụng gây hạ huyết áp. Trên lâm sàng cũng quan sát thấy thuốc có làm hạ huyết áp đối với những người mắc bệnh huyết áp cao và làm giảm nhẹ trệu chứng.
    – Tác dụng chống ung thư: Qua nghiên cứu thực nghiệm bước đầu nhận xét thấy có tác dụng chống sự tăng trưởng của tế bào ung thư di căn (thử nghiệm trên ung thư cổ tử cung của chuột nhắt)

Ứng dụng lâm sàng:

  1.  Thanh nhiệt tán kết: Dùng chữa chứng tràng nhạc (loa lịch tức lao hạch lâm ba cổ) và anh lựu (như bứu cổ đơn thuần) thường lấy vị hạ thảo khô làm chủ dược. Những bài thuốc kinh nghiệm có:
    – Độc vị Hạ khô thảo 40g sắc uống học phối hợp với Hà thủ ô 12g, hoặc Huyền sâm 40g, Sinh mẫu lệ 80g, sắc uống hoặc nấu thành cao (Hạ khô thảo 4 phần, Hà thủ ô 1 phần) uống sáng và tối mỗi lần 10ml
    – Hạ khô thảo, Bối mẫu, Viễn chí, Hương phụ sắc nước đặc uống.
    – Hạ khô thảo 12g, Cam thảo 4g, sắc nước uống
    – Hạ khô thảo 20g, Huyền sâm 12g, Thổ bối mẫu 12g, trị viêm hạch và viêm tuyến vú
  2. Trị đau mắt đỏ (do can hỏa bốc, như viêm màng tiếp hợp cấp, viêm giác mạc cấp, mắt đau sưng đỏ) dùng bài:
    Hạ khô thảo 20g, Cúc hoa 20g, Bồ công anh 40g, săc nước uống, nếu mắt đau kèm chảy nước mắt dùng Hạ khô thảo, Hương phụ lượng bằng nhau, tán bột mịn, uống sáng và tối mỗi lần 4g. Trường hợp do can hư gây đau ở tròng, đêm đau tăng, có thể gia thêm Đương qui, Bạch thược, Cam thảo, Huyền sâm (Hạ khô thảo tán)
    Hạ khô thảo, Bồ công anh đều tươi,  mỗi thứ 40-80g, Tang diệp, Xa tiền thảo, Dã cúc hoa mỗi thứ 12g, sắc nước uống.
  3. Trị huyết áp cao, đâu đầu, mắt đỏ:
    – Hạ khô thảo 40-80g sắc uống.
    – Hạ khô thảo, Hi thiêm thảo, Dã cúc hoa mỗi thứ 40g, sắc uống.
    – Hạ khô thảo 20g, Cúc hoa 12g, Sinh mẫu lệ, Sinh thạch quyết minh mỗi thứ 30g, Xuyên khung 4g, Mãn kinh tử 16g, sắc uống.
    Ngoài ra có kinh nghiệm dùng Hạ khô thảo kết hợp với Mộc hồ điệp trị viêm họng mạn, viên lưỡi mạn, mùa hè dùng Hạ khô thảo độc vị hoặc gia sinh địa làm nước trà uống giải thử nhiệt, trị nhọt lở mùa hè ở trẻ em. Trường hợp bị chấn thương phần mềm, bị sát thương có thể dùng Hạ khô thảo giã nát, đắp ngoài

Liều dùng và chú ý: 8-20g. Thuốc tươi dùng nhiều hơn.

Hạ khô thảo Bắc khác với Hạ khô thảo Nam hay là cải trời, cải ma (Blumea subcapitata DC) thuộc họ Cúc (Compositae) thầy lang thường dùng chữa bệnh ngoài da, cần được nghiên cứu thêm. Không dùng trong trường hợp vị âm hư, thuốc có tác dụng kích thích với niên mạc dạ dày, cần dùng lâu dài nên kết hợp với các thuốc Đảng sâm, Bạch truật

Có một số tác giả dùng trị u giáp và gia Hạ khô thảo trông một số bài thuốc trị ung thư, nhưng muốn xác định kết quả cần có sự nghiên cứu thêm.

About Admin

Tôi là Lâm, là admin website Hương Rừng. Với đam mê tìm hiểu về các loại thảo dược, gia vị độc đáo của Việt Nam. Với những kiến thức tôi được đọc và được trải nghiệm thực thế, hy vọng sẽ chia sẻ được nhiều thông tin hữu ích về Thảo dượcẨm thực Việt Nam tới các bạn.

Leave a Reply