Cỏ mực, cây thuốc nam nhiều công dụng ít được biết đến.

Cây cỏ mực là gì?

Tên khoa học: Herba Ecliptae.

Tên gọi khác: Cỏ nhọ nồi.

Tính vị, quy kinh: Vị ngọt, chua, tính hàn. Vào hai kinh can, thận.

Bộ phận dùng: Toàn bộ phần trên mặt đất của cây Cỏ nhọ nồi

Cây cỏ mực có tác dụng gì?

Đặc điểm sản phẩm: Thân hình trụ, có khía dọc, mặt ngoài thân màu nâu tím nhạt và mang lông cứng, trắng. Lá nguyên, mọc đối, hình mũi mác, màu xám đen và nhăn nheo. Cụm hoa hình đầu, màu trắng, mọc ở kẽ lá hay ngọn cành.

Phân bố vùng miền: Ở Việt Nam cây mọc hoang chỗ ẩm mát khắp nơi.

Thời gian thu hoạch: Quanh năm.

Ở Ấn độ, cỏ mực là một trong số mười cây hoa quý (Dasapushpam), được sử dụng làm mỹ phẩm bôi da, thoa tóc từ thời xưa… nó cũng là nguyên liệu chế tạo chất phẩm nhuộm tóc đen.

Tại Java (indonesia), người ta dùng lá làm thực phẩm.

Đặc điểm của cây cỏ mực

Mô tả thực vật:

Cỏ mực là cây thảo 1 năm cao 10-60cm, có thân màu lục, đôi khi hơi đỏ tím, có lông. Lá mọc đối, hẹp, dài 3-10cm, rộng 0,5-2,5cm, có lông ở cả hai mặt, mép khía răng. Hoa màu trắng, tập hợp thành đầu ở nách lá hoặc đầu cành, các hoa cái hình lưỡi ở ngoài, các hoa lưỡng tính hình ống ở giữa. Quả bế dẹt, có 3 cạnh có cánh dài 3mm. Cây ra hoa tháng 7-9, quả tháng 9-10.

Mô tả dược liệu cây cỏ mực:

Thân hình trụ, có khía dọc, dài khoảng 30 – 50cm, đường kính 2 – 5mm. Mặt ngoài thân màu nâu tím  nhạt và mang lông cứng, trắng.

Lá nguyên, mọc đối, hình mũi mác, màu xám đen và nhăn nheo, dài 2,5 – 3cm, rộng 1 – 2,5cm. Hai mặt đều có lông cứng ngắn, màu trắng. Mép phiến lá có răng cưa, to và nông. Gốc phiến lá men xuống nên trông như không có cuống lá. Cụm hoa hình đầu, màu trắng, đường kính 4 – 8mm, mọc ở kẽ lá hay ngọn cành. Đầu mang 2 loại hoa: hoa cái hình lưỡi nhỏ ở ngoài hoa lưỡng tính hình ống ở trong, có khi các hoa đã rụng chỉ còn lại tổng bao lá bắc và trục cụm hoa.

Cây cỏ mực trị bệnh gì?

Quả đóng hình trái xoan hơi dẹt, đầu cụt, màu đen. Dài 3mm, rộng 1 – 1,5mm.

Cây cỏ mực phân bố ở đâu?

Cỏ mực xuất hiện ở một số nước như Việt Nam, Ấn độ, Trung Quốc, Pakistan và một số nước vùng Nam Á.

Ở Việt Nam, cây cỏ mực mọc hoang ở khắp nơi, đặc biệt những nơi có đất ẩm, người dân Việt Nam thường thu hái cây cỏ mực tại các bờ ruộng, bờ kênh.

Thành phần hóa học có trong cây cỏ mực:

Alkaloid ecliptin, nicotin, α-terthienylinethenol, α-formyl α-terthienyl; còn có tinh dầu, tanin, chất đắng, caroten, cumarin lacton.

Bộ phận dùng, cách thu hái và bào chế cây cỏ mực

  • Bộ phận dùng: Phần cây trên mặt đất. Thường gọi là Hạn liên thảo.
  • Thu hái: Có thể thu hái quanh năm.
  • Chế biến: Phơi hay sấy khô.
  • Bảo quản: Nơi khô ráo, thoáng mát.

    Cỏ mực trị bệnh gì?

Cây cỏ mực có tác dụng gì?

Cỏ mực có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, bổ can thận. Cỏ mực thường được sử dụng trị nôn ra máu từ dạ dày, chảy máu cam, đái ra máu, ỉa ra máu, tử cung xuất huyết; Viêm gan mạn tính, viêm ruột, lỵ; Trẻ em suy dinh dưỡng; Ù tai, rụng tóc do đẻ non, suy nhược thần kinh; Nấm da, eczema, vết loét, bị thương chảy máu, viêm da. Cũng còn dùng làm thuốc sát trùng trong bệnh ho lao, viêm cổ họng, ban chẩn, lở ngứa, đau mắt, sưng răng, đau dạ dày, bệnh nấm ngoài da gây rụng tóc.

Để hiểu rõ hơn cây cỏ mực trị bệnh gì? Các bạn cùng tham khảm một vài bài thuốc được chúng tôi sưu tầm:

  1. Chảu máu cam, nôn ra máu từ dạ dày: Cỏ mực 30g, lá Sen 15g, Trắc bá diệp 10g, đun sôi với nước và chia ra uống làm 3 lần.
  2. Chứng vàng da, đau thận, rụng tóc: Cỏ mực và cành cây Râm, mỗi vị 15g sắc uống.
  3. Loét ống tiêu hóa chảy máu: Cỏ mực 30g, Cỏ bấc 30g, đun sôi uống.
  4. Chữa cơ thể suy nhược, thiếu máu, kém sức, ăn không ngon, gầy yếu: Cỏ mực 100g, Cỏ mần trầu 100g, Gừng khô 50g, các vị chặt nhỏ sao sơ, khử thổ, đổ vào 3 chén nước dừa tươi, nấu còn 8 phân, uống ngày 2 lần.
  5. Chữa viêm họng: 20g cỏ nhọ nồi và 20g bồ công anh, 12g củ rẻ quạt, 16g kim ngân hoa, 16g cam thảo đất, sắc lấy nước uống. Mỗi ngày uống một thang. Dùng từ 3 – 5 ngày.
  6. Chữa sốt cao: Khi bị sốt cao dùng cỏ nhọ nồi, sài đất, củ sắn dây mỗi vị 20g, 16g cam thảo đất, 16g cây cối xay, 12g ké đầu ngựa, sắc lấy nước uống mỗi ngày một thang.
  7. Chữa chảy máu cam: Cỏ nhọ nồi 20g, hoa hoè sao đen 20g, 16g cam thảo đất, sắc lấy nước uống mỗi ngày một thang.
  8. Chữa mề đay: Nhọ nồi, lá khế, lá xương sông, rau diếp cá,  lá dưa chuột, lá nhài giã nát, lá huyết dụ, cho nước vào rồi vắt lấy nước uống. Bã còn lại dùng để xoa, đắp vào chỗ sưng.
  9. Chữa sốt phát ban:Cỏ nhọ nồi 60g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 – 4 lần uống trong ngày.
  10. Chữa bạch biến: Nhọ nồi 30g, đảng sâm 15g, sa uyển tử 15g, xích thược 10g,  hà thủ ô 30g, bạch chỉ 12g, đan sâm 15g, bạch truật 10g, thiền thoái 6g, đương quy 10g,  các vị rửa sạch đem sắc uống ngày 1 thang, mỗi đợt uống 15 ngày.
  11. Trị Eczema trẻ em: Theo thông tin trên An ninh thủ đô, để trị Eczema trẻ em, có thể dùng cỏ nhọ nồi 50g, sắc lấy nước cô đặc, bôi chỗ đau. Thường 2 – 3 ngày sau là dịch rỉ giảm rõ ràng, đóng vẩy, đỡ ngứa, khoảng 1 tuần là khỏi.
  12. Chữa sốt xuất huyết nhẹ: Cỏ nhọ nồi 20 g, lá trắc bá sao đen 12 g, hoa hòe sao đen 12 g, củ hoặc lá sắn dây 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày 1 thang.
  13. Chữa gan nhiễm mỡ: Cỏ nhọ nồi 30g, trạch tả 15g, nữ trinh tử 20g, đương quy 15g. Trường hợp gan nhiễm mỡ do nghiện rượu thì thêm: Cát căn 30g, bồ công anh 15g, chỉ củ tử 15g. Người béo phì dẫn đến gan nhiễm mỡ thì thêm: đại hoàng 6g, lá sen 15g. Sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang.
  14. Cầm máu:Trong cỏ mực chứa chất tanin có thể rút ngắn thời gian đông máu. Ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm: Cắt đứt động mạch trên đùi chó, lấy bột cỏ mực tán mịn đắp vào chỗ đứt, khẽ ấn nhẹ và thấy có tác dụng cầm máu rất tốt.
  15. Tiêu viêm, diệt khuẩn: Có công dụng diệt các trực khuẩn viêm ruột (bacillus enteritidis), trực khuẩn bạch hầu (bacillus diphtheria), tụ cầu khuẩn và có tác dụng nhất định tới amip. Người ta dùng cỏ mực để trị các bệnh ngoài da và nhiễm khuẩn.
  16.  Ức chế ung thư, tăng cường miễn dịch: Có khả năng ức chế quá trình phát triển của các tế bào ung thư, đặc biệt là ở ung thư dạ dày. Ngoài ra còn kích hoạt hệ miễn dịch, tác dụng mạnh đối với tế bào T – lymphocytes (Limphô T). Ngoài ra, còn có nấm linh chi hay giảo cổ lam cũng có tác dụng tăng miễn dịch.
  17.  Giúp đen tóc và dưỡng da: Cỏ mực có công dụng cải thiện quá trình tuần hoàn máu ngoài da (nhất là da đầu), làm cho đầu tóc, da thịt được cung cấp chất dinh dưỡng đầy đủ, do đó da dẻ sẽ mịn màng, râu tóc đen mượt hơn.
  18.  Điều trị di mộng tinh do tâm thận nóng: Cỏ mực 30g sắc uống mỗi ngày hoặc có thể phơi khô tán bột, mỗi ngày dùng 8g uống với nước cơm.
  19. Trị rong kinh: Bị rong kinh nhẹ dùng cỏ mực khô sắc nước uống hoặc tươi giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống. Nếu ra máu nhiều, cần thêm vào cây huyết dụ hoặc trắc bá diệp.…
  20. Trẻ tưa lưỡi: 4g cỏ mực tươi, 2g lá hẹ tươi giã nhuyễn, lấy nước cốt hòa với mật ong chấm lên lưỡi cứ cách 2 giờ 1 lần.
  21. Bị loét ống tiêu hóa chảy máu: Cỏ mực và cỏ bấc mỗi loại 30g đun sôi uống.
  22.  Chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, ăn không ngon, thiếu máu, gầy yếu: 100g cỏ mực, 50g gừng khô, 100g cỏ mần trầu, chặt nhỏ, sao sơ, khử thổ, thêm vào 3 chén nước dừa tươi nấu còn 8 phân, mỗi ngày uống 2 lần.
  23. Chữa chảy máu tử cung: Cỏ mực và lá trắc bá diệp mỗi loại 15g sắc uống ngày 1 thang, uống liên tiếp 7 ngày.
  24. Trị chóng mặt, hoa mắt do can thận âm hư tổn: Dùng 15gr cỏ mực, 15gr sinh địa sắc nước uống hai lần mỗi ngày. Uống liên tiếp 30 ngày. Bài thuốc này cũng giúp trị râu tóc bạc sớm và rụng tóc.

Những lưu ý khi sử dụng cây cỏ mực

Kỵ sử dụng cỏ mực với người tỳ vị hư hàn tiêu chảy, âm hư không có nhiệt.

Trên đây là toàn bộ về thông tin tác dụng cùng cách dùng cỏ mực chúng tôi muốn chia sẻ. Lưu ý những bài thuốc chỉ mang tính chất chia sẻ, không khuyến khích bạn đọc áp dụng theo. Hoặc trước khi dùng nên hỏi ý kiến bác sĩ và người có chuyên môn.

Kiểm nghiệm dược liệu cây cỏ mực:

1. Vi phẫu:

Lá: biểu bì trên và dưới đều có lỗ khí và lông che chở đa bào thường bị gãy. Ở phần gân giữa biểu bì dưới thường có 2 – 3 hàng tế bào mô dày, có 3 -7 bó libe-gỗ xếp thành hình cung. Phần phiến lá có 1 hàng mô mềm giậu chiếm 1/3 bề dày của phiến lá.

Thân: biểu bì có lông che chở đa bào thường bị gãy. Dưới biểu bì là vòng mô dày gồm 2 – 3 dãy tế bào. Bên trong là mô mềm vỏ, trong đó có những khuyết lớn phân bố rải rác. Trụ giữa gồm nhiều đám libe – gỗ xếp rời nhau, trên các đám mô dẫn thường có cung mô cứng.

2. Bột:

Bột màu lục xám, lông che chở gồm 3 tế bào, bề mặt sần sùi. Mảnh biểu bì gồm tế bào thành ngoằn ngoèo có lỗ khí. Mảnh mạch xoắn. Mảnh cánh hoa với tế bào hình chữ nhật, thành hơi nhăn nheo. Hạt phấn hoa màu vàng, hình cầu, đường kính 28 – 30µm, có 3 lỗ rãnh, có gai to và dài 4 – 5µm. Đầu nhụy gồm các tế bào mọc lồi lên.

3. Định tính:

Lấy 1g bột dược liệu, thêm 5ml ether ethylic ( TT), ngâm 10 phút, thỉnh thoảng lắc, lọc. Lấy 1ml dịch lọc cho vào ống nghiệm, thêm 10 giọt acid acetic (TT), thêm từ từ 15 giọt acid sulfuric (TT) theo thành ống nghiệm. Nơi tiếp giáp giữa 2 lớp chất lỏng có màu nâu đỏ, đồng thời lớp ether chuyển sang màu xanh da trời.

4. Các chỉ tiêu đánh giá khác:

  • Độ ẩm: Không quá 13% .
  • Tro toàn phần: Không quá 20% .
  • Tỷ lệ vụn nát: Qua rây có kích thước mắt rây 0,315mm không quá 8% .

Tài liệu tham khảo

  • Bộ y tế, Giáo trình Dược học cổ truyền, Nhà xuất bản y học, 2006.
  • Bộ Y tế, Dược điển Việt Nam IV, 2010.
  • Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, 2006.
  • Viện Dược Liệu, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập I và II, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật, 2006.

Trả lời

Gọi đặt hàng
Chỉ đường